Thứ năm, ngày 05 tháng 02 năm 2026
Thống kê hồ sơ
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay:

Hôm qua:

Trong tuần:

Tất cả:

Đánh giá thái độ phục vụ của cán bộ tiếp nhận hồ sơ ?
Cập nhật lúc: 11/03/2020

Ổn định dân di cư tự do và quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường

Ngày 01/3/2020, Chỉnh phủ đã ban hành Nghị quyết số 22/NQ-CP về ổn định dân di cư tự do và quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường.

Theo đó, Nghị quyết đã nêu lên bối cảnh tình hình dân di cư tự do và quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường; đánh giá những kết quả đạt được và một số tồn tại, hạn chế chủ yếu trong việc thực hiện ổn định dân di cư tự do và quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường.

* Về các tồn tại, hạn chế Nghị quyết đã đánh giá : 

- Công tác tuyên truyền vận động người dân còn hạn chế, công tác quản lý địa bàn, quản lý dân cư ở một số địa phương chưa chặt chẽ, việc đăng ký nhập hộ khẩu thường trú còn nhiều vướng mắc chưa được giải quyết, đến nay còn hàng chục nghìn hộ dân di cư tự do chưa được đăng ký hộ khẩu. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành trung ương và các địa phương để giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong bố trí, ổn định dân cư còn hạn chế. Việc giao thực hiện công tác bố trí ổn định dân cư ở một số địa phương chưa thống nhất giao cho một cơ quan làm đầu mối mà giao cho các cơ quan khác nhau như: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Dân tộc, ... nên việc tổng hợp và báo cáo còn khó khăn và chưa thống nhất số liệu giữa các bên (đặc biệt là nhu cầu bố trí dân cư).

- Đời sống và sản xuất của một bộ phận người dân di cư tự do còn gặp nhiều khó khăn, việc phục hồi sản xuất chưa bền vững, thiếu đất ở, đất sản xuất, thiếu nước và điện sinh hoạt, thu nhập thấp, nơi ở tạm bợ, không ổn định, thiếu cán bộ kỹ thuật và nguồn vốn bố trí cho công tác khuyến nông, tỷ lệ hộ đói nghèo cao, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số di cư từ các tỉnh phía Bắc vào Tây Nguyên, nhiều hộ dân chưa được hưởng các chính sách an sinh xã hội của Nhà nước nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn, tiềm ẩn gia tăng tình trạng người dân di cư tự do đi nơi khác và gây mất trật tự an toàn xã hội.

- Nguồn lực đất đai chưa thực sự phát huy hiệu quả do quá trình xây dựng cơ chế, chính sách chưa đánh giá hết được tính phức tạp khi cổ phần hóa; tính chất đặc thù và tính tổng thể về địa bàn, đối tượng, mô hình hoạt động. Diện tích đất rừng ngày càng bị thu hẹp do chưa hoàn thành việc cắm mốc, xác định ranh giới cụ thể ngoài thực địa và việc xử lý, giải quyết nhiều vụ việc có liên quan đến tranh chấp, lấn chiếm đất đai có nguồn gốc nông, lâm trường kéo dài, chưa dứt điểm.

- Nguồn kinh phí cấp để thực hiện chương trình, dự án về bố trí ổn định dân di cư tự do và quản lý, sử dụng đất đai có nguồn gốc nông, lâm trường chưa kịp thời, mới đáp ứng được khoảng 30% so với nhu cầu vốn được duyệt. Mặt khác, chính sách hỗ trợ di dân (đặc biệt là di dân xen ghép) còn hạn chế, mặc dù đã được Nhà nước nhiều lần thay đổi quy định theo hướng điều chỉnh hỗ trợ cao hơn, song hiện nay mức hỗ trợ vẫn còn thấp, chưa phù hợp với thực tế, dẫn đến nhiều chương trình, dự án thực hiện dở dang, kéo dài nhiều năm và không có hoặc thiếu vốn để thực hiện.

* Về quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, các giải pháp, nhiệm vụ trong tâm và tổ chức thực hiện trong thời gian tới. 

+ Nghị quyết đưa ra 04 quan điểm chỉ đạo trọng tâm như sau:

1. Chính quyền các cấp cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác bố trí ổn định dân cư; không khuyến khích dân di cư tự do và xác định rõ việc giữ dân và ổn định tại chỗ là nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài của cả hệ thống chính trị, nhất là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đã di cư tự do có nơi cư trú hợp pháp, sinh kế bền vững, có đất sản xuất, được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và bảo đảm an sinh xã hội.

2. Phát huy nguồn lực đất đai trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; giải quyết ổn định tình hình trật tự, an ninh chính trị thông qua việc đảm bảo quỹ đất sản xuất cho người dân trong đó có đồng bào di dân tự do; giải quyết căn bản tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai, phá rừng, suy thoái đất đai, nguồn nước và môi trường; không để đất đai hoang hóa, sa mạc hóa và phát triển nghề rừng.

3. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bố trí ổn định dân cư, đặc biệt là giải pháp về an sinh xã hội nhằm ổn định đời sống của người dân để từ đó chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Đồng thời, tập trung các nguồn lực thực hiện có hiệu quả công tác bố trí dân cư, hỗ trợ phát triển sản xuất bền vững, ổn định đời sống lâu dài cho người dân di cư tự do. Trước mắt, tập trung nguồn lực để xử lý dứt điểm các tồn tại, vướng mắc và bố trí, sắp xếp số hộ đã di cư tự do đang sống phân tán tại các địa phương vào các điểm dân cư theo quy hoạch (khoảng 24.800 hộ). Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ nếu để người dân của tỉnh mình tiếp tục di cư tự do đi tỉnh khác lấn chiếm đất đai của các nông, lâm trường, doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức khác.

4. Tăng cường công tác quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường.

+ Về mục tiêu: Có 04 mục tiêu:

1. Phấn đấu đến năm 2020: Giảm thiểu tối đa tình trạng di dân tự do; ưu tiên thực hiện bố trí ổn định cho các hộ dân thực sự khó khăn, cấp bách vào các điểm dân cư theo quy hoạch; đồng thời, hoàn thành dứt điểm các dự án bố trí ổn định dân di cư tự do đang thực hiện dở dang; Thực hiện việc giao đất ở và hỗ trợ nhà ở cho các hộ dân phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, khả năng hỗ trợ của ngân sách và phù hợp với quy định của Luật Đất đai hiện hành; Bố trí đất sản xuất, đào tạo chuyển đổi nghề, tạo sinh kế bền vững cho người dân để tập trung thúc đẩy phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập nhằm cải thiện đời sống cho người dân; bảo đảm thu nhập bình quân đầu người của các hộ dân di cư tự do tối thiểu bằng mức trung bình của các hộ dân sở tại; giảm tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo thuộc các hộ di cư tự do, nhất là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên.

2. Phấn đấu đến năm 2025: Cơ bản không còn tình trạng dân di cư tự do; hoàn thành công tác bố trí toàn bộ số hộ dân đã di cư tự do (khoảng 24.800 hộ) vào các điểm dân cư theo quy hoạch; hoàn thành việc nhập hộ khẩu, hộ tịch cho các hộ dân di cư tự do đủ điều kiện theo quy định; tập trung hoàn thiện, phát triển hệ thống các công trình cơ sở hạ tầng và phát triển sản xuất bền vững tại vùng dự án bố trí ổn định dân di cư tự do.

3. Phấn đấu đến năm 2030: Đảm bảo ổn định cuộc sống và phát triển sản xuất bền vững cho các hộ dân đã di cư tự do.

4. Về công tác quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường giai đoạn 2019 - 2025: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường, đảm bảo đất phải có chủ thực sự; tiến hành đo đạc, lập bản đồ địa chính làm cơ sở quản lý chặt chẽ; Giải quyết căn bản tình hình thiếu đất ở, đất sản xuất, kiểm soát tình hình di dân tự do; Ổn định tình hình trật tự an ninh - xã hội, bảo đảm quyền lợi của người dân. Đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội; Giảm thiểu và chấm dứt tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai; phá rừng lấy đất sản xuất, dẫn tới mất rừng, suy thoái rừng và sa mạc hóa. Đất và rừng phải có chủ.

+ Về giải pháp, có 08 giải pháp : Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức; rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách; phát triển sản xuất, nâng cao đời sống và thực hiện an sinh xã hội; sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện; đề cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương và người đứng đầu; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể; đảm bảo quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; huy động, ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện.

+ Về nhiệm vụ trong tâm trong thời gian tới: Chính phủ đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành của Trung ương và các tỉnh. Đối với lãnh đạo cấp ủy, Ủy ban nhân dân các tỉnh:

- Thực hiện nghiêm các Quyết định, Chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chương trình bố trí dân cư và tăng cường công tác quản lý địa bàn, quản lý dân cư (cả nơi đi, nơi đến), ổn định đời sống, phát triển kinh tế - xã hội, không để tái phát tình trạng dân di cư tự do đi nơi khác. Sau năm 2025, không còn tồn đọng các dự án của giai đoạn trước, nếu địa phương nào để người dân di cư tự do (cả nơi đi và nơi đến) thì đồng chí Bí thư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đó phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

- Đẩy mạnh và đa dạng hóa công tác tuyên truyền, vận động người dân chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác bố trí dân cư. Thuyết phục, vận động đồng bào tích cực tăng gia sản xuất, cải thiện thu nhập, ổn định cuộc sống bền vững để không di cư tự do đi nơi khác.

- Hoàn thành việc rà soát, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để bố trí đất ở, đất sản xuất cho các hộ dân di cư tự do phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng của ngân sách; sử dụng và phát triển rừng; xây dựng phương án, dự án phát triển kinh tế - xã hội lồng ghép với Chương trình bố trí dân cư để thực hiện trong giai đoạn 2021 - 2025.

- Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình Thủ tướng Chính phủ bổ sung vốn để hoàn thành dứt điểm các dự án dở dang trong năm 2020 để di dời, bố trí các hộ dân đang sinh sống phân tán, đặc biệt là các hộ đang sinh sống trong các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ vào các điểm dân cư theo quy hoạch. Đồng thời, hoàn thành việc rà soát, thẩm định và phê duyệt các dự án bố trí ổn định dân di cư tự do theo quy định gửi các bộ, ngành trung ương có liên quan đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025. Hằng năm, rà soát, tổng hợp các dự án di dân tự do cấp bách ưu tiên thực hiện gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các bộ, ngành liên quan tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

- Ủy ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, tính chính xác, khả thi và hiệu quả của dự án; sử dụng nguồn vốn hỗ trợ đúng mục đích, đối tượng và các quy định hiện hành. Đồng thời, chủ động sử dụng ngân sách địa phương và lồng ghép các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện các dự án bố trí ổn định dân di cư tự do.

- Lồng ghép nguồn vốn của các Chương trình, dự án hiện có trên địa bàn với nguồn vốn Chương trình bố trí dân cư để thực hiện hỗ trợ phát triển sản xuất, từng bước nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống, sản xuất lâu dài cho người dân di cư tự do.

- Xây dựng các đề án bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số tại các điểm bố trí ổn định dân di cư tự do gắn với phát triển du lịch.

- Tăng cường công tác giáo dục đào tạo, phổ cập giáo dụng cho người dân di cư tự do, đặc biệt hỗ trợ tổ chức các lớp học xóa mù chữ phù hợp với tập quán sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số tại các điểm bố trí dân di cư tự do.

- Chỉ đạo các cơ quan có chức năng nghiên cứu, khảo sát, xác định những khu vực người dân di cư tự do đã cư trú ổn định mà không ảnh hưởng đến việc quản lý và bảo vệ rừng, không làm mất thêm diện tích rừng, gây nguy hại cho môi trường rừng thì kiến nghị cấp có thẩm quyền cho phép chuyển diện tích rừng phòng hộ sang rừng sản xuất để xây dựng dự án ổn định dân di cư tự do, giao đất ở, đất sản xuất cho đồng bào; nếu đánh giá có tác động, ảnh hưởng đến môi trường rừng thì lập quy hoạch dự án ở địa điểm mới để di chuyển người dân đến và hỗ trợ ổn định cuộc sống.

- Trực tiếp chịu trách nhiệm giải quyết tranh chấp, khiếu kiện kéo dài về đất đai nhất là các điểm nóng dễ xảy ra mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; không để tình trạng dân di cư tự do, khiếu nại, lãnh phí trong việc quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông lâm trường.

- Quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện, cơ chế xây dựng, phát triển các mô hình quản trị doanh nghiệp, đổi mới mô hình quản lý các công ty nông, lâm nghiệp, ứng dụng khoa học công nghệ cao, gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của vùng, địa phương.

- Thực hiện ngay việc bàn giao ranh giới, mốc giới và cho thuê đất đối với phần diện tích mà nông, lâm trường giữ lại để quản lý, sử dụng để không xảy ra tình trạng tái lấn chiếm, tranh chấp.

- Thực hiện ngay việc lập phương án quản lý, sử dụng quỹ đất các nông, lâm trường bàn giao về địa phương để giao cho người dân, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu hoặc không có đất ở, đất sản xuất. Chủ động quy hoạch, xây dựng các điểm dân cư tập trung, việc bố trí các khu vực đất đai dự kiến giao cho hộ dân di cư tự do phải đảm bảo tính đồng bộ về hạ tầng, đất ở và đất sản xuất, trong đó chú trọng việc định canh cho đồng bào, khắc phục tình trạng di cư tự do, dân cư trú phân tán trên diện rộng trong diện tích đất do các nông, lâm trường quản lý, sử dụng.

- Chủ động rà soát, điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng, xác định những diện tích đất, rừng phòng hộ xung yếu; quy hoạch, đưa diện tích đất rừng bỏ hoang, chưa sử dụng hợp lý trước đây, chuyển sang rừng sản xuất để phát huy hiệu quả kinh tế.

- Chủ động, phối hợp với các bộ, ngành và cơ quan chủ quản trong việc thống nhất giải pháp giải quyết dứt điểm và thu hồi đất thuộc diện phải bàn giao về địa phương; đồng thời rà soát lại quỹ đất của các công ty nông, lâm nghiệp thu hồi các diện tích đất sử dụng không hiệu quả, sai mục đích, khoán trắng thực hiện theo quy định của Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ và xây dựng phương án quản lý, sử dụng tổng thể để thực hiện các dự án bố trí ổn định dân di cư tự do, trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.

 

                                                                                                                                        Văn Thiện

Nội dung cụ thể của Nghị quyết 22 kèm theo sau:

Lấy link copy
In Gửi Email

Bài viết liên quan

Các chuyên mục khác

ipv6 ready
Chung nhan Tin Nhiem Mang